Nối mỗi dấu câu với một tác dụng của nó:
- Dấu chấm hỏi → Kết thúc câu hỏi
- Dấu hai chấm → Báo hiệu phần giải thích hoặc lời nói
- Dấu ngoặc kép → Đánh dấu lời dẫn trực tiếp
- Dấu chấm than → Kết thúc câu cảm, câu khiến
Mỗi dấu câu có công dụng riêng.
4.590 câu hỏi phù hợp · có đáp án và lời giải
Muốn tạo câu hỏi riêng và dùng khi soạn đề?
Đăng nhập tài khoản giáo viên để tạo, sửa và lưu câu hỏi vào ngân hàng của bạn.
Nối mỗi dấu câu với một tác dụng của nó:
Mỗi dấu câu có công dụng riêng.
Đoạn văn: “Ông tôi rất thích trồng cây. Ông thường dậy sớm tưới nước cho vườn.” Từ “Ông” ở câu 2 liên kết với câu 1 bằng cách:
Từ “ông” được lặp lại để liên kết hai câu.
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 1. Cây bàng già mọc ở đâu?
Câu mở đầu: “Ở góc sân trường em có một cây bàng già.”
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 3. Vào mùa hè, tán bàng được so sánh với hình ảnh nào?
“Tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ.”
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 4. Vào mùa đông, cây bàng có đặc điểm gì?
“Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu…”
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 11. Nếu trường em cũng có một cây xanh bị bão làm gãy cành, em sẽ làm gì để chăm sóc cây? Viết 2–3 câu.
- Nêu được ít nhất 2 việc làm cụ thể, phù hợp lứa tuổi (tưới nước, nhặt rác, báo thầy cô, không trèo bẻ cành…) (0,5 điểm).
- Câu văn đúng ngữ pháp, thể hiện tình cảm với cây xanh (0,5 điểm).
Học sinh trả lời theo suy nghĩ riêng, hợp lí.
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 2. Chi tiết nào cho thấy cây bàng đã có từ rất lâu?
Cây đã có từ thời bố em còn đi học.
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 5. Sau cơn bão, các bạn học sinh đã làm gì để chăm sóc cây bàng?
Cưa cành, quét vôi là việc của thầy hiệu trưởng và các bác bảo vệ.
Đọc đoạn văn sau:
CÂY BÀNG GIÀ
Ở góc sân trường em có một cây bàng già. Không ai nhớ cây được trồng từ bao giờ, chỉ biết bố em hồi đi học đã từng ngồi dưới gốc cây ấy đọc sách. Mùa xuân, bàng nảy những búp lá non xanh mơn mởn như những ngọn lửa xanh. Mùa hè, tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ che mát cả một góc sân. Mùa thu, lá bàng ngả dần sang màu đỏ sẫm. Sang đông, cây trút hết lá, chỉ còn những cành khẳng khiu vươn lên bầu trời xám.
Năm ngoái, một cơn bão lớn quật gãy mấy cành to. Cả trường lo lắng. Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây. Chúng em thay nhau tưới nước, nhặt rác quanh gốc. Mùa xuân năm nay, cây bàng lại đâm chồi. Nhìn những lộc non, em hiểu rằng: chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.
Câu 6. Câu chuyện muốn nhắn gửi điều gì?
Câu kết: “chỉ cần được yêu thương, chăm sóc, mọi sự sống đều có thể hồi sinh.”
Bài văn tả người thường gồm mấy phần?
Bài văn gồm mở bài, thân bài, kết bài.
Mở bài gián tiếp là cách mở bài:
Mở bài gián tiếp dẫn dắt từ chuyện khác vào đối tượng.
Kết bài mở rộng là kết bài nêu thêm lời bình luận, liên hệ hoặc mong ước về đối tượng.
Đáp án: Đúng
Kết bài mở rộng không chỉ dừng ở nhận xét chung mà còn bình luận thêm.
Sắp xếp các bước làm một bài văn theo thứ tự hợp lí:
Quy trình viết: tìm hiểu đề → lập dàn ý → viết → kiểm tra.
Đọc câu: “Lũy tre làng tôi xanh rì quanh năm, che chở cho xóm nhỏ.” Từ “che chở” cho thấy lũy tre được miêu tả như:
“Che chở” là hoạt động của con người ⇒ lũy tre được nhân hóa như người bảo vệ xóm làng.
Em hãy viết bài văn (khoảng 150–200 chữ) tả một người thân trong gia đình mà em yêu quý nhất.
- Mở bài: giới thiệu được người định tả (0,5 điểm).
- Thân bài: tả ngoại hình nổi bật (1 điểm); tả tính tình, hoạt động qua việc làm cụ thể (1,5 điểm).
- Kết bài: nêu tình cảm, suy nghĩ của em (0,5 điểm).
- Dùng từ gợi tả, câu văn có hình ảnh, ít nhất một biện pháp so sánh/nhân hóa; chính tả, ngữ pháp đúng (0,5 điểm).
Chú ý chọn chi tiết tiêu biểu, tránh liệt kê chung chung.
Câu 7. Từ nào đồng nghĩa với từ “khổng lồ” trong câu “Tán bàng xòe rộng như chiếc ô khổng lồ”?
“Khổng lồ” nghĩa là rất to lớn.
Câu 10. Điền kết từ thích hợp vào chỗ trống: “Cây bàng bị bão quật gãy cành (1) mùa xuân năm nay cây vẫn đâm chồi.”
Đáp án: (1) nhưng / song
Hai vế có quan hệ tương phản ⇒ dùng “nhưng”.
Câu 9. Đúng hay sai: Câu “Cơn bão đi qua, cây bàng gãy mấy cành to.” là câu ghép.
Đáp án: Đúng
Câu có hai cụm chủ – vị: “Cơn bão / đi qua” và “cây bàng / gãy mấy cành to”.
Câu 8. Chủ ngữ của câu “Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ cưa cành gãy, quét vôi gốc cây.” là:
Chủ ngữ là cụm “Thầy hiệu trưởng cùng các bác bảo vệ” (trả lời câu hỏi Ai?).
Câu 12. Em hãy viết bài văn tả cảnh sân trường em vào giờ ra chơi.
- Mở bài (0,5 điểm): giới thiệu cảnh sân trường giờ ra chơi.
- Thân bài (2,5 điểm): tả bao quát rồi tả chi tiết theo trình tự hợp lí (không gian hoặc thời gian); có hình ảnh cây cối, âm thanh, hoạt động vui chơi của học sinh; dùng từ ngữ gợi tả, biện pháp so sánh, nhân hóa.
- Kết bài (0,5 điểm): nêu tình cảm, cảm nghĩ về ngôi trường.
- Chữ viết, chính tả, dùng từ, đặt câu (0,5 điểm): mắc không quá 5 lỗi chính tả.
Bài văn tả cảnh cần có trình tự miêu tả rõ ràng và cảm xúc chân thực.